Dấu ấn Thành Đồ Bàn từ cuối thế kỷ X

Vào cuối thế kỷ X, có một ngôi Thành Đồ Bàn được xây dựng dưới triều đại vua Yangpuku Vijaya. Thành này cũng chính là kinh đô cuối cùng của vương quốc Chămpa từ thế kỷ XI đến thế kỷ XV. Đến năm 1775, thành được triều đại Tây Sơn xây dựng lại, trên nền của kinh đô Trà Bàn, là nơi đặt đại bản doanh của nghĩa quân Tây Sơn trong giai đoạn đầu và sau đó là kinh đô của chính quyền trung ương Hoàng Đế Thái Đức – Nguyễn Nhạc.

Cổng Thành cổ kính và uy nghiêm.
Cổng Thành cổ kính và uy nghiêm.

Thành Đồ Bàn, hay còn gọi là Thành Hoàng Đế được các chuyên gia khảo cổ nhận định là Thành có diện tích không lớn nhưng lại thừa hưởng nét đẹp riêng và đặc biệt là mang đậm kiến trúc Chămpa với ba vòng thành: thành nội, thành ngoại và Tử Cấm Thành. Thành ngoại là vòng thành ngoài cùng, hình chữ nhật nhưng các cạnh uốn lượn, có chu vi 7400m. Chân thành có chiều rộng hơn 10m, cao trên 6m và mặt thành rộng tới trên 4m. Thành mở 5 cửa, trong đó tường thành phía Nam mở hai cửa là cửa Vệ và cửa Tân Khai, ba tường thành còn lại thì có 3 cửa Đông, Tây, Bắc, được đắp bằng đất, phía trong và ngoài bó đá ong.

Nếu bạn là người thích khám phá văn hoá thì chắc hẳn không bỏ qua những đặc điểm nổi bật của Thành nội. Được biết, Thành này trước đây có tên là Hoàng thành, được xây chếch về hướng Tây Nam của thành ngoại. Thành được thiết kế theo  hình chữ nhật với chu vi 1600m, chân thành rộng từ 7m – 9m, mở ba cửa trong đó cửa Tiền ở chính giữa tường thành phía Nam, nhìn thẳng ra cửa Vệ của thành ngoại. Tử Cấm Thành nằm ở trung tâm thành Hoàng Đế, là vòng thành trong cùng, hình chữ nhật, chu vi gần 600m, cao 1,8m, riêng góc Đông Nam cao đến trên 3m, rộng khoảng 1,5m. Thành có 4 cửa ở 4 hướng, trong đó cửa ở hướng Nam là cửa chính với tên gọi cửa Nam Lâu hay cửa Quyển Bồng.

Tượng lân đá trên nền Thành cổ
Tượng lân đá trên nền Thành cổ.

Ngoài các vòng tường thành kiên cố, thành còn được phòng vệ bằng cả một hệ thống sông ngòi, núi, đồi, gò tự nhiên và nhân tạo bao bọc xung quanh. Sông Đập Đá tách ra ở Thiết Trụ, xã Nhơn Mỹ rồi hợp lại ở Lý Tây, xã Nhơn Thành, bao bọc thành Hoàng Đế như một con hào tự nhiên, đồng thời là con đường thủy thuận lợi. Cùng với tuyến sông – hào, các gò núi quanh thành cũng đóng vai trò không nhỏ trong hệ thống phòng thủ. Phía Nam thành có gò Vân Sơn, gò Tập – nơi trước đây dùng để luyện tập quân sĩ, xa hơn gò Tập một chút là ngọn núi Long Cốt án ngữ phía trước cửa thành.

Sự bền bỉ với thời gian thể hiện qua hình tượng Tượng voi đá trên nền thành cổ
Sự bền bỉ với thời gian thể hiện qua hình tượng Tượng voi đá trên nền thành cổ

Lối vào thành có hai chú voi bằng đá rêu phong đứng cách nhau hơn 20m, một hướng về phía Đông, một hướng về phía Tây. Đó là dấu tích thành Đồ Bàn của vương quốc Chămpa được vua Thái Đức Nguyễn Nhạc giữ lại khi xây dựng thành. Qua cổng thành, trong sân có những tượng lân đá rất sinh động, kế đến là lầu Bát Giác, hòn Giả Sơn. Phân bố đăng đối hai bên lầu Bát Giác là hai hồ hình bán nguyệt đã được nạo vét, trả lại nguyên vẹn hình dạng một hồ tắm xưa với đường kính dài 17m, sâu 1,6m. Vách hồ là những tảng đá ong nâu xếp chồng lên nhau, được kết dính bằng đất sét hết sức khéo léo và đẹp mắt. Đặc biệt, trên vách hồ có gắn những khối san hô trắng cỡ bằng bàn tay và một số bệ đá.

Tử Cấm Thành luôn rợp bóng cây xanh rất thơ mộng. Thấp thoáng sau tán cây cổ thụ là ngọn tháp Cánh Tiên từ thời Chămpa nghiêng mình e ấp đẹp tựa tranh vẽ. Trải qua sự tàn phá của thời gian, những cây cổ thụ với đủ loại: me, sung, bồ đề, khế vẫn hiên ngang đứng đó như những chàng lính ngự lâm oai dũng bảo vệ cấm cung. Với tuổi đời hàng trăm năm, thành cổ Hoàng Đế được ví như một quyển sách cổ bị bỏ quên, để rồi nếu vô tình chạm đến và mở ra, du khách sẽ bị chinh phục bởi nét đẹp của những trang dĩ vãng, những dòng lịch sử hết sức giá trị. Thành cổ Hoàng Đế đã được Bộ Văn Hóa – Thông tin xếp hạng di tích lịch sử quốc gia vào năm 1982.